Nhà thơ Phùng Cung qua lời kể của con trai

Tôi học cùng lớp, sinh hoạt cùng tổ, ở cùng phòng với anh Phùng Châu Hà, con trai cả Nhà thơ Phùng Cung, từ năm 1976 - 1980. Ngày đó, thi thoảng tôi đến nhà anh Hà chơi. Gia đình anh ở trong ngôi biệt thự cổ kính trên phố Mai Hắc Đế (Hà Nội).


Tác giả và Nhà báo Phùng Châu Hà (con trai Nhà thơ Phùng Cung)

Bây giờ phố Mai Hắc Đế sầm uất, náo động chứ trước đây nó thật yên tĩnh và thơ mộng. Đến nhà anh, tôi thường gặp mẹ anh, tên là Thoa, làm ở Đại học Dược và các em trai anh; còn bố anh, tôi ít khi gặp. Và có gặp, ông chỉ hỏi qua loa rồi lên gác. Ông cụ người gầy khô, thường đi guốc mộc, đôi mắt thăm thẳm sau cặp kính dày cộm, da tai tái, nom hiền từ và lịch lãm. Sống trong ngôi biệt biệt thự cổ kính sang trọng như vậy nhưng đời sống gia đình anh Hà ngày ấy chẳng khá giả gì. Nhà anh Hà có ba anh em trai. Anh Hà là cả, anh thứ hai tên là Phùng Hà Phủ và anh thứ ba tên là Phùng Châu Hề. Mấy anh em nhà anh, có lẽ cũng đói ăn như chúng tôi nên anh nào cũng gầy gò, da trắng xanh. Anh Hà có cái quần ximili túi chéo, mặc đến lúc bục đầu gối, anh cắt ống, thành quần soóc, mặc suốt. Thời bao cấp, nhà ai cũng nghèo, chẳng riêng nhà anh Hà.

Anh Hà cũng có đôi mắt thăm thẳm như bố anh. Tính cách cũng vậy, lịch lãm, kín đáo. Suốt mấy năm học với nhau, anh Hà rất ít nói về bố anh, nhưng nhiều người trong trường đều biết anh là con Nhà thơ Phùng Cung, theo Nhân văn Giai phẩm, viết chuyện về con ngựa, rồi bị bắt đi cải tạo, mới mãn hạn. Thú thật, ngày đó, mặc dù rất ham đọc sách nhưng tôi chưa đọc tác phẩm nào của Nhà thơ Phùng Cung, thậm chí, tôi cũng chẳng biết thêm thông tin nào về ông, ngoài lời đồn, ông mới đi cải tạo về.

Một hôm, sau khi ăn trưa xong, tôi tót lên giường tầng hai (giường tầng) nằm. Bực mình vì tôi trốn rửa bát, anh Hà mang chuyện viết lách của tôi ra diễu cợt. Ngày đó tôi đã viết kịch, làm thơ nhưng dám gửi đi đâu. Bị xúc phạm, tôi liền to tiếng, trong đó có nhắc đến bố anh. Như con thú bị trúng đạn, anh Hà gầm lên, mắt long sòng sọc. Rồi chúng tôi vồ vào nhau. Tôi bị một nắm đấm vào mắt, nổ đom đóm, máu chảy lênh láng, giờ còn sẹo ở dưới mí mắt trái. Vụ ấy chúng tôi đều bị nhà trường kỷ luật cảnh cáo, phê vào học bạ.
Sau này đọc cuốn “Cát bụi chân ai” của Nhà văn Tô Hoài (NXB Hội Nhà văn, 1992) và đọc nhiều bài viết về bố anh đăng trên các báo, tôi mới biết về cuộc đời cơ cực của Nhà thơ Phùng Cung.
Nhà thơ Phùng Cung sinh ngày 18 tháng 7 năm 1928 tại Vĩnh Yên. Năm 1945, ông tham gia cách mạng và làm Chủ tịch liên xã Hồng Liên Châu. Ông lãnh đạo nhân dân nổi dậy cướp chính quyền. Năm 1949, địch trấn áp dữ dội vùng kháng chiến, ông phải rút lên Chiến khu Việt Bắc và tham gia công tác văn nghệ. Năm 1954, Thủ đô Hà Nội giải phóng, ông về sống tại Hà Nội và họat động văn nghệ. Do tham gia trong vụ “Nhân văn Giai phẩm” ông bị kỷ luật, đi cải tạo từ năm 1961 đến năm 1973. Ông mất năm 1997 vì bạo bệnh. Tác phẩm chính của ông gồm: Dạ Ký (truyện ngắn); Mộ Phách (truyện ngắn); Kép Nghề (truyện ngắn); Chiếc mũ lông (truyện ngắn); Quản thổi (truyện ngắn); Xem Đêm (thơ) Phùng Cung - truyện và thơ v.v. Tập thơ "Xem Đêm" của ông được nhà nước cho phép xuất bản vào năm 1995.
Trong “Cát bụi chân ai” Nhà văn Tô Hoài kể, khi Nhà thơ Phùng Cung mới đi cải tạo về, đến thăm Tô Hoài “Dáng cù rù, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà cái bóng của Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chỉ mờ mờ. - Còn sống về được à ? - Cũng không hiểu tại sao anh ạ”… Nhà văn Tô Hoài kể, tan lớp kiểm điểm văn nghệ sĩ ở Thái Hà ít lâu, Phùng Cung bị bắt đi cải tạo 12 năm không có án, trong đó biệt giam 11 năm. Đã tù biệt giam, lại bị bệnh lao, thế mà không chết, mới lạ.
Những năm gần đây, thi thoảng tôi được gặp anh Hà trong các buổi họp lớp, những chuyến công tác. Anh cho biết, sau khi bố anh mất, mẹ anh chuyển lên ở với gia đình người em út trên đường Bưởi. Bây giờ, mấy anh em anh đều thành đạt, cuộc sống khá giả; càng thương bố anh. Nhắc lại vụ đánh nhau với tôi năm ấy, anh Hà tâm sự, đó là thời kỳ gia đình anh vô cùng khó khăn. Bố anh mới được về đoàn tụ với gia đình nhưng ông cụ chẳng có việc làm. Ðang lúc túng quẫn, bố anh được người bạn cũ bố trí cho công việc làm đinh ở xưởng cơ khí nhỏ. Nhưng thời gian làm ở đó cũng chẳng được bao lâu vì bố anh từ khi ở trại về mang theo nhiều thứ bệnh, nào là bệnh dạ dày, bệnh lao, mà công việc làm đinh thì nặng nhọc. Cả nhà, mỗi suất lương mẹ anh nuôi ba anh em lớn ngộc đang tuổi ăn tuổi học và người chồng đau ốm. Đận ấy gia đình trở nên túng thiếu kịch liệt. Trong khó khăn thiếu thốn về vật chất, gia đình anh còn chịu tiếng tăm dị nghị của hàng xóm, bạn bè. Từ khi bố anh được tha về, một số bạn bè của gia đình xa lánh vì sợ liên lụy.
Từ khi bị kỷ luật, bị đình chỉ công tác rồi bị bắt đi cải tạo cho đến lúc được về đoàn tụ với gia đình, bố anh không hề được nhận bất cứ khoản trợ cấp nào. Mãi đến năm 1990, tức là 30 năm sau, bố anh mới có quyết định phục hồi để làm lại sổ lương. Cùng chung một quyết định với bố anh là cụ Nguyễn Hữu Đang - người có công trong việc tổ chức ngày lễ Tuyên ngôn Độc lập, năm 1945.. Mức lương trợ cấp cố định hàng tháng là 35.000 đồng. Với số tiền ấy đủ để đong thêm vài chục cân gạo, giúp gia đình anh vượt qua đận khó khăn.
Theo anh Hà, tập thơ Xem đêm là tuyển chọn những bài được sáng tác vào các thời điểm khác nhau, trong đó có cả thời gian Nhà thơ Phùng Cung đi cải tạo. Dù hoàn cảnh gia đình khó khăn, dù bệnh tật hành hạ, nhưng Nhà thơ Phùng Cung vẫn ham làm việc. Bố anh thường nói với mẹ anh: "Nếu giời cho sống thì còn phải làm việc nhiều hơn nữa và còn rất nhiều việc phải làm". Ông luôn sợ phải bỏ dở công việc của mình. Ngoài mấy trăm bài thơ và tập truyện viết lại, anh thấy bố anh còn nung nấu viết tập hồi ký. Tập thơ Xem đêm được in ra có phần cổ vũ, trợ giúp không nhỏ về tài chính của cụ Nguyễn Hữu Ðang và sự nhiệt tình của Nhà văn Phùng Quán - người em thân thiết của bố anh. Tập thơ Xem đêm ra đời còn phải kể đến sự quý trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, Giám đốc NXB Văn hóa Thông tin thời kỳ đó và chính Nhà thơ Quang Huy đã viết tựa cho cuốn sách này.
* * *
Đọc thêm: Nhà văn Phùng Quán kể về việc xuất bản tập thơ “Xem đêm”

HẰNG NGA THỨC DẬY
Phùng Cung xuất thân là người viết văn xuôi, sở trường truyện ngắn. Anh viết truyện ngắn từ hồi còn ở chiến khu Việt Bắc.
(…) Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải, cũng một dòng "ngựa, voi", chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc nghiệt "bảo lưu" cùng với tài năng của tác giả.
Truyện nào viết xong anh cũng đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn từ dân dã của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra, tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt. Sau mười hai năm cách ly đời thường, Phùng Cung như xa lạ với môi trường văn nghệ. Được trả tự do. Việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ "Tạ ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán". Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song hình như mùi dầu nhờn, rỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt bàn…
Tôi thường đạp xe từ Nghi Tàm lên phố Mai Hắc Đế thăm anh, khi mang cho con diếc, con trôi vừa câu trộm được, khi mang bó rau muống cấy ở vệ hồ. Trong khi đó, thật bất ngờ, anh sáng tác thơ. Đọc thơ anh, có bài chỉ vài ba câu, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp xao xuyến tận đáy lòng - những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn mà không thấy. Mới đây, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam quyết định trích quỹ sáng tác của Hội làm món quà tặng sáu hội viên (trong đó có tôi) đã phải chịu nhiều thiệt thòi trong 30 năm qua. Hội in cho mỗi người một tập thơ bao cấp, tác giả tự chọn những bài thơ vừa ý trong thơ mình, dày từ hai trăm trang trở lại. Năm anh bạn đang dựng bản thảo. Tôi cả đời chưa bao giờ được in riêng một tập thơ càng hăm hở chuẩn bị. Và bản thảo đã chuẩn bị xong, chỉ còn mang đến nộp. Trước khi nộp tôi đem đến anh Cung để tranh thủ một vài nhận xét. Nhân dịp này tôi đã dại dột đọc lại tập thơ tích lũy của anh. Đọc xong, lòng hăm hở của tôi chùng lại. Tôi không còn muốn in thơ nữa. Tôi tự nhủ: in làm gì khi chưa có cặp mắt biết nhìn như Phùng Cung?
Thoảng mùi ruộng ải
Thóc giống cựa mình
Nắng vắt ngọn tre đuôi én
Đủng đỉnh điệu cu cườm
Lay nhịp gió may.
(Mùa gieo mạ)
Dưới mắt anh, cảnh vật hiện ra sinh động đến thế! Ngòi bút của tôi đâu còn dám đua chen. Thấy tôi chán nản, anh Cung động viên khéo:
"Thời cơ chế thị trường, dư luận khách hàng mới là khuôn vàng thước ngọc. Hãy cứ cho ra rồi lắng nghe dư luận".
Trái với tình thế của tôi có điều kiện in rồi mà còn đắn đo, tình thế của anh Cung lại là muốn in mà không có điều kiện. Anh dí dỏm gọi mỉa mai tập bản thảo thơ anh là "Hằng Nga ngủ trong rừng".
Như mọi người đã thấy, ngày nay ở nước ta xuất bản thơ là việc không mấy khó khăn lắm. Bạn muốn in thơ? Xin mời! Cứ việc bỏ tiền ra mà in. Nhà xuất bản chỉ có thể tham gia bằng cách chịu một phần trách nhiệm về nội dung và đứng ra xin giấy phép xuất bản, với điều kiện bạn trả tiền lệ phí. Một nhà thơ nghèo như Phùng Cung, năm nay đã sáu mươi nhăm tuổi có lẽ đến lúc "chọn đất sạch dọn mình vào vĩnh viễn" cũng không hy vọng thơ mình được người đọc thưởng thức qua những dòng chữ in. Hằng tháng chỉ với mâm cơm gia đình "bốn mùa rong ruổi chốn rau dưa" cộng thêm vài chục nghìn tiền điện, dăm nghìn tiền nước, chị Thoa vợ anh cũng đã phải tất tả chạy "giật nóng" quanh bà con lối xóm. Thơ anh đành nằm chờ…
Nhưng tôi quyết tâm in bằng được thơ anh. Tôi sẽ đi khắp Trung, Nam, Bắc đọc rong thơ của anh và quyên góp tiền. Tôi ước tính muốn có đủ tiền để in hai trăm bài thơ ngắn, tôi sẽ phải đọc thơ và quyên tiền đến một năm, trong khi đó bao nhiêu chuyện có thể xảy ra làm cho công việc thêm phức tạp.
Quá trình phấn đấu hẳn phải chia thành nhiều đợt đi đi về về. Nhưng tôi đã gặp một chuyện bất ngờ. Một hôm trong bữa cơm gia đình có anh Nguyễn Hữu Đang dự, tôi nói:
- Em sắp đi xa, vắng nhà chừng khoảng một năm. Anh nhớ luôn luôn đến nhà em ăn cơm với vợ con em cho vui.
- Chú có công chuyện gì mà phải đi xa nhà lâu thế?
- Em đi dọc thơ rong, quyên góp tiền để in cho anh Phùng Cung tập thơ. Cả một đời gian khổ vì cái nghiệp bút mực, anh ấy chỉ có một ước vọng được in một tập thơ để tặng bạn hữu và góp mặt với đời trước khi vĩnh biệt chúng ta.
- Tôi gặp chú Cung luôn, sao không thấy chú ấy nói chuyện này với tôi?
- Anh Cung không nói, em cho là anh ấy nghĩ có nói anh cũng không giúp được gì, chỉ làm anh thêm bận tâm.
- Tập thơ chú Cung đâu, chú đưa tôi xem.
Anh Đang chăm chú đọc hết tập thơ. Anh khẽ gật đầu có mái tóc ngắn quen thuộc nói:
- Tôi không ngờ thơ chú Cung khá thế. Theo tôi còn khá hơn văn xuôi chú ấy. Bây giờ thế này chú Quán nhé: chú không phải đi đâu hết. Tôi sẽ cho chú Cung tiền để in tập thơ. Tôi trợn tròn mắt:
- Thơ không rẻ như bèo đâu anh ơi? In một tập thơ vài trăm trang với hình thức chỉ xoàng xoàng thôi, anh có biết phải mất bao nhiêu tiền không? Từ hai triệu đến hai triệu rưỡi đấy!
Tôi tưởng anh tái mặt tưng hửng trước số tiền mà tôi thông báo. Anh vẫn bình tĩnh lật lật những trang thơ, đọc lại một vài bài vừa rồi chưa đọc kỹ, rồi chậm rãi nói:
- Tôi sẽ cho chú Cung đủ tiền để in dù có tốn như chú vừa nói.
Không để tôi hỏi anh lấy đâu ra tiền, anh giải thích luôn:
- Tôi cho chú ấy dùng tất cả số tiền tôi dè sẻn từng đồng dành dụm được trong hai mươi năm qua, nhất là từ bốn năm trở lại đây tôi có lương hưu, lại được những anh chị em cùng hoạt động hồi Mặt trận Dân chủ, Hội Truyền bá quốc ngữ, Hội Văn hóa cứu quốc, các đội Tuyên truyền xung phong chống Pháp, ngành Bình dân học vụ cùng những bạn bè xa gần, biết tôỉ còn sống và nghèo khổ, kẻ ít người nhiều họ gửi tiền đến giúp đỡ. Ngoài những khoản chi tiêu cần thiết hằng tháng, còn lại bao nhiêu tôi gửi tất cả vào quỹ tiết kiệm ngân hàng, phòng xa phải dựng túp lều khi không còn ai cho ở nhờ, phòng xa lúc ốm nặng kéo dài, phòng xa cả lúc chết nữa. Nhờ vậy mà số tiền tiết kiệm của tôi cho đến hôm nay đã lên đến hơn bốn triệu đồng. Sổ tiết kiệm đây…
Anh móc túi áo bộ đội cũ mặc bên trong, lấy ra cuốn sổ bọc trong ba lần giấy nhựa bóng, chằng ngang, dọc bốn dây cao su. Anh đặt sổ trước mặt tôi và bảo:
- Chú giữ lấy. Tôi sẽ làm giấy uỷ quyền cho chú rút tiền ra sử dụng. Nếu số tiền này chưa đủ, tôi sẽ về quê đòi vài tạ thóc cho vay, bán đi rồi gửi thêm tiền cho chú. Tôi yêu cầu tập thơ phải in thật đẹp, mà đẹp giản dị, chứ không rườm rà, lòe loẹt như nhiều tập thơ đang bày bán.
Không hiểu sao nghe anh nói tim tôi hồi hộp và cổ tôi như nghẹn ngào. Tôi được quen biết anh đã gần bốn mươi năm nhưng cho mãi tới hôm ấy tôi mới thật hiểu anh là người như thế nào. Nguyễn Hữu Đang là người nếu chi dùng cho bản thân thì một trăm đồng ba quả khế chua để gội đầu (thay chanh mà anh vẫn sợ đắt) cũng tiếc tiền, bất đắc dĩ mới phải mua, nhưng đã là việc nghĩa hiệp thì sẵn sàng san sẻ đến đồng tiền cuối cùng.
Thế đấy. Nếu bản thảo thơ Phùng Cung là "Hằng Nga ngủ trong rừng" thì tấm lòng trợ giúp vô tư của Nguyễn Hữu Đang chính là "Hoàng Tử đẹp trai" đến đánh thức.